Kịp thời tháo gỡ 9 nhóm vướng mắc về VNACCS/VCIS

11:52 PM |

Gần 1 tháng triển khai Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập. Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã kịp thời đưa ra giải pháp tháo gỡ để tạo thuận lợi cho cộng đồng DN, cho hoạt động XNK.


Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc   Ảnh: T.Bình. 
Thông qua nhiều kênh thông tin, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã nhận được 9 nhóm nội dung vướng mắc liên quan đến Hệ thống VNACCS/VCIS, bao gồm: Xác nhận, đóng dấu tờ khai giấy; Giới hạn tối đa 50 dòng hàng trên một tờ khai hải quan; Một tờ khai chỉ khai báo cho một hóa đơn; Hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất cùng một tập đoàn; Thông quan điện tử của hải quan; Sự thiếu đồng bộ trong thông tin của Ngành về lệ phí tờ khai; số lần sửa tờ khai là 9 lần nhưng khi đã hoàn thành việc khai hải quan, DN vẫn chưa được đảm bảo hàng hóa sẽ được thông quan; Trường khai mã hàng hóa quá ngắn (độ dài của mã hàng hóa).
Với tinh thần cầu thị, kịp thời giải quyết vướng mắc cho DN, không gây ách tắc đối với hoạt động XNK khi thực hiện VNACCS/VCIS, ngay sau khi tiếp nhận các vướng mắc nêu trên, ngày 22-4, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã chủ trì cuộc họp, tại trụ sở Cục Hải quan Hải Phòng (một trong 2 đơn vị đầu tiên triển khai chính thức và là đơn vị đầu tiên hoàn thành việc thực hiện VNACCS/VCIS tại 100% chi cục để xử lý vấn đề). Tham dự cuộc họp có Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Ngọc Túc; các đồng chí Phó Tổng cục trưởng: Vũ Ngọc Anh, Nguyễn Văn Cẩn; ông Hiroki Sakurai- Cố vấn trưởng Dự án VNACCS/VCIS; thủ trưởng 5 Cục Hải quan trọng điểm (Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai) và vụ, cục liên quan thuộc Tổng cục Hải quan.
Theo yêu cầu của Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn, các đại biểu đã thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, vướng mắc và đưa ra giải pháp tháo gỡ cho từng nội dung cụ thể. Với trách nhiệm và sự khẩn trương cao độ, tất cả vướng mắc đã được Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn kết luận về giải pháp tháo gỡ để thực hiện thống nhất trong toàn Ngành.
1. Về xác nhận, đóng dấu tờ khai giấy: Theo yêu cầu quản lí của các cơ quan quản lí chuyên ngành thì khi vận chuyển hàng hóa trên đường phải có tờ khai hải quan có xác nhận của cơ quan Hải quan và tờ khai hải quan dùng cho hoàn thuế tại cơ quan Thuế. Vì vậy, tờ khai hải quan điện tử sẽ phải thiết kế cho phép sử dụng cho cả 2 mục đích trên.
Tờ khai luồng Vàng, luồng Đỏ, cơ quan Hải quan sẽ in và xác nhận trên tờ khai giấy tại nơi đăng kí tờ khai; tờ khai luồng Xanh, DN tự in và xuất trình tại khu vực giám sát (của cơ quan Hải quan), cơ quan Hải quan kiểm tra để xác nhận phục vụ cho mục đích vận chuyển trên đường và hoàn thuế tại cơ quan Thuế nội địa.
Mẫu tờ khai in sẽ được thiết kế để đảm bảo những thông tin cần thiết cho việc hoàn thuế và vận chuyển trên đường.
2. Giới hạn tối đa 50 dòng hàng trên một tờ khai hải quan: Điểm a khoản 3 Điều 10 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định “Một tờ khai hải quan được khai tối đa 50 dòng hàng”. Để đảm bảo Hệ thống VNACCS vận hành ổn định, phản hồi tự động trong vòng 1 đến 3 giây việc giới hạn dung lượng mỗi lần khai báo đến Hệ thống VNACCS là hết sức cần thiết. Quy định trên để đảm bảo hiệu năng hoạt động của Hệ thống VNACCS, tránh những rủi ro do nghẽn đường truyền gây ảnh hưởng đến thời gian thông quan của hàng hóa.
Để giảm thiểu các chi phí phát sinh của DN khi áp dụng quy định mới, Tổng cục Hải quan sẽ quy định chỉ thu lệ phí cho tờ khai đầu tiên của lô hàng.
Một lô hàng có trên 50 dòng hàng được khai báo trên nhiều tờ khai, cơ quan Hải quan chỉ yêu cầu người khai xuất trình, nộp 1 bộ hồ sơ hải quan cho cả lô hàng khi tờ khai được phân luồng Vàng, luồng Đỏ. Người khai hải quan cũng chỉ phải lưu giữ 1 bộ hồ sơ tương ứng với các tờ khai đã khai báo.
Về kết quả phân luồng khác nhau giữa các tờ khai nhánh trong cùng một lô hàng, cơ quan Hải quan sẽ nghiên cứu quy định theo hướng phân luồng thống nhất dựa trên cơ sở đánh giá quá trình tuân thủ pháp luật hải quan của DN.
3. Một tờ khai chỉ khai báo cho một hóa đơn: Điểm c khoản 3 Điều 10 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định “Một tờ khai chỉ khai báo cho một hóa đơn”. Đây là quy định mang tính hỗ trợ người khai hải quan trong việc tính toán trị giá tính thuế và tính tổng số thuế khi Hệ thống VNACCS căn cứ thông tin hóa đơn để tự động phân bổ trị giá tính thuế và tính thuế của từng dòng hàng trên tờ khai.
Do loại hình chế xuất không bị quản lí bởi chính sách thuế và trị giá tính thuế, Tổng cục Hải quan tiếp thu ý kiến góp ý của DN (chế xuất) và quy định đối với hàng hóa XNK của đối tượng DN này, một mặt hàng có nhiều hợp đồng/đơn hàng, có một hoặc nhiều hóa đơn thương mại của một người bán hàng, cùng điều kiện giao hàng, giao hàng một lần và có một vận đơn thì người khai hải quan được khai trên một tờ khai hải quan.
Đồng thời, Tổng cục Hải quan tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng khai nhiều hóa đơn trên một tờ khai cho các đối tượng khác.
4. Hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất cùng một tập đoàn: Quy định về việc hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất không cùng một KCX nhưng các DN chế xuất này thuộc một tập đoàn hay một hệ thống công ty thì được lựa chọn  không phải làm thủ tục hải quan hoặc làm thủ tục hải quan theo loại hình XNK tại chỗ đã được quy định thống nhất tại điểm e3 khoản 5 Điều 24 Thông tư 22/2014/TT-BTC và điểm e3 khoản 3 Điều 49 Thông tư 128/2013/TT-BTC.
Đối với thủ tục hải quan điện tử, việc giám sát hàng hóa luân chuyển giữa các DN chế xuất được thực hiện theo quy định tại Điều 33 Thông tư 22/2014/TT-BTC.
5. Thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ đối với DN ưu tiên: Thực hiện Khoản 2 Điều 20 Thông tư 86/2013/TT-BTC khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo quy định tại Thông tư 22/2014/TT-BTC, DN ưu tiên và các đối tác thực hiện XK tại chỗ trước, NK tại chỗ sau. DN ưu tiên được khai tờ khai NK tại chỗ tương ứng với nhiều tờ khai XK tại chỗ và ghi nhận cụ thể các tờ khai XK tại chỗ tại “Phần ghi chú” trên Tờ khai hàng hóa NK.
6. Thông quan điện tử của hải quan: Trong giai đoạn đầu triển khai VNACCS/VCIS còn có một số vướng mắc trong kĩ năng khai báo của người khai hải quan và việc phối hợp giữa các Chi cục Hải quan đã và chưa triển khai Hệ thống nên phát sinh một số vướng mắc đối với hàng hóa XK. Cơ quan Hải quan sẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả của thủ tục hải quan điện tử như: Hoàn thiện các hệ thống CNTT (vệ tinh) để đảm bảo VNACCS/VCIS vận hành thông suốt; ban hành các văn bản hướng dẫn các Chi cục Hải quan để kịp thời xử lí các vướng mắc, đẩy nhanh thời gian thông quan. 
7. Sự thiếu đồng bộ trong thông tin của ngành về lệ phí tờ khai: Để giảm thiểu các vướng mắc liên quan đến điều kiện ân hạn thuế, Bộ Tài chính sẽ có văn bản quy định về việc trao đổi dữ liệu điện tử giữa các ngân hàng thương mại - Kho bạc Nhà nước - Thuế - Hải quan. Đồng thời hướng dẫn DN có quá trình chấp hành tốt pháp luật hải quan được phép xuất trình chứng từ nộp tiền tại ngân hàng để phục vụ việc thông quan ngay trong trường hợp chưa kết nối để trao đổi thông tin nộp thuế giữa ngân hàng và hải quan.
Cơ quan Hải quan đã cải tiến quy định cho phép DN được nộp lệ phí theo tháng. Theo quy định thì việc nộp lệ phí hải quan không ảnh hưởng đến điều kiện ân hạn thuế và vấn đề hoàn thuế.
Trường hợp DN còn vướng mắc sẽ phản ánh kịp thời theo đường dây nóng hoặc gửi vướng mắc tại mục “Tiếp nhận vướng mắc vận hành Hệ thống VNACCS” trên website của Tổng cục Hải quan (www.customs.gov.vn).
8. Số lần sửa tờ khai là 9 lần nhưng khi đã hoàn thành việc khai hải quan, DN vẫn chưa được đảm bảo hàng hóa sẽ được thông quan: Quy định cho phép sửa tờ khai hải quan trước khi kiểm tra thực tế hàng hóa 9 lần là một ưu việt đối với thủ tục hải quan điện tử thực hiện theo Thông tư 22. Để tránh việc sửa đổi, bổ sung quá nhiều lần DN cần nghiên cứu kĩ các hướng dẫn khai báo các chỉ tiêu thông tin đã được quy định tại Phụ lục II Thông tư 22 và các hướng dẫn được đăng tải trên website của Tổng cục Hải quan.
Tổng cục Hải quan phấn đấu đến 30-9-2014 tỉ lệ tờ khai sửa chỉ chiếm 3% đến 5% tổng số tờ khai. Để thực hiện được việc này, Tổng cục Hải quan sẽ triển khai các giải pháp: Tổ chức đào tạo cho các công chức hải quan trong dây chuyền nghiệp vụ nắm vững kĩ thuật nghiệp vụ và thao tác trên Hệ thống. Xây dựng các cẩm nang hướng dẫn thao tác trên Hệ thống, mô tả các công việc cụ thể cần thực hiện trong dây chuyền nghiệp vụ phục vụ cho công chức hải quan thực hiện trong quá trình xử lí tờ khai. Tổ chức các khóa đào tạo miễn phí cho DN tại địa bàn để nắm vững các kĩ thuật khai báo trên Hệ thống trước khi triển khai chính thức.
9. Trường khai mã hàng hóa quá ngắn: Vấn đề độ dài của mã hàng hóa đã được cơ quan Hải quan ghi nhận và xử lí trước thời điểm triển khai chính thức Hệ thống. Theo đó đối việc khai mã hàng hóa đảm bảo 8 kí tự theo đúng quy định tại Danh mục hàng hóa XNK Việt Nam. Đối với mã nguyên phụ liệu, mã sản phẩm XK phục vụ cho việc thanh khoản, hoàn thuế cho phép khai tối đa 48 kí tự.
Read more…

XK gạo sang Trung Quốc sẽ sôi động trở lại?

10:14 AM |

Tình hình xuất khẩu gạo sang Trung Quốc từ đầu năm đến nay gặp không ít khó khăn, tuy nhiên, theo một số nhà chuyên môn và doanh nghiệp, thời gian tới xuất khẩu gạo vào thị trường này sẽ sôi động hơn, đặc biệt khi Việt Nam vừa giành được quyền cung cấp 800.000 tấn gạo cho Philippines.


Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến nay, xuất khẩu gạo của các doanh nghiệp hội viên thuộc đơn vị này đạt hơn 1,3 triệu tấn, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm khoảng 40%, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lý giải nguyên nhân xuất khẩu gạo sang Trung Quốc từ đầu năm đến nay gặp khó khăn, ông Nguyễn Đình Bích, Chuyên gia phân tích thị trường lúa gạo Việt Nam (Bộ Công Thương) cho biết: “Tình hình khó khăn thời gian qua chẳng qua do nguồn cung trong nước nhiều, doanh nghiệp “dìm” nhau, kéo giá xuống để tranh thủ bán ra. Trong bối cảnh như thế, các nhà nhập khẩu Trung Quốc cũng không dại gì phải nóng vội mà mua vào, họ sẽ chờ doanh nghiệp Việt Nam đua nhau hạ giá, kéo giá xuống mức thích hợp thì mới bắt đầu mua”.
Tuy nhiên, theo ông Bích, khi Việt Nam giành được hợp đồng xuất khẩu 800.000 tấn gạo cho Philippines, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh nhập khẩu gạo của Việt Nam bởi vì nguồn cung trong nước sẽ giảm đáng kể, trong khi đó, gạo Việt Nam vẫn là ưu tiên lựa chọn của Trung Quốc.
Đồng quan điểm này, ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Thịnh Phát- doanh nghiệp hội viên của VFA- cũng cho rằng xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc sắp tới chắc chắn sẽ sôi động hẳn lên.  
Theo phân tích của một số nhà chuyên môn, yếu tố vị trí địa lý là điều rất quan trọng khiến nguồn cung của Việt Nam có giá cạnh tranh (phí vận chuyển rẻ hơn Thái Lan khoảng 10 đô la Mỹ/tấn) và trở thành ưu tiên lựa chọn số 1 của Trung Quốc.
Bà Ngô Ngọc Yến, Giám đốc doanh nghiệp gạo Yến Ngọc, TP.HCM - đơn vị chuyên xuất khẩu gạo tiểu ngạch sang Trung Quốc- cũng tin tưởng xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường này sẽ tăng lên trong những tháng tới. “Với ưu thế không bị cạnh tranh bởi Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan; lượng gạo trong nước chẳng còn nhiều khi phần lớn được sử dụng để cung cấp cho hợp đồng 800.000 tấn ở Philippines, tôi nghĩ nhà nhập khẩu Trung Quốc sẽ nhanh chân mua vào thôi”, bà Yến cho biết.  
Về diễn biến tình hình giá lúa gạo nội địa, thông tin Việt Nam trúng thầu cung cấp gạo (15% tấm) cho Philippines (từ tháng 5-8-2014) tiếp tục kéo giá lúa gạo sáng nay (19-4) tăng thêm 50 đồng/kg so với mức giá trước đó hai hôm.
Cụ thể, gạo nguyên liệu của giống IR 50404 tại Đồng bằng sông Cửu Long có giá dao động khoảng 6.500-6.600 đồng/kg và lúa IR 50404 tươi có giá khoảng 4.200-4.300 đồng/kg.
Trong khi đó, giá chào xuất khẩu gạo mấy ngày qua vẫn ổn định và hiện gạo 5% tấm được chào bán với giá 380-390 đô la Mỹ/tấn; gạo 25% tấm có giá 350-360 đô la Mỹ/tấn và gạo thôm Jasmines có giá 490-500 đô la Mỹ/tấn.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm 2013 đạt hơn 3 triệu tấn, gồm cả tiểu ngạch và chính ngạch.
Theo Kinh Tế Sài Gòn
Read more…

Kiếm hàng trăm triệu từ xuất khẩu gấc

11:17 PM |

Từ loài cây nhìn thấy tại chiến trường xưa, cựu chiến binh Nguyễn Xuân Quảng (Bắc Giang) khá thành công với mô hình trồng giống gấc lai cao sản, xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.

Trong lần đi thăm chiến trường xưa cách đây 9 năm, ông Quảng tình cờ phát hiện cây gấc có thể sinh trưởng tốt tại các vùng bị nhiễm độc dioxin. Lân la hỏi các nhà khoa học Mỹ đi cùng đoàn, ông được biết nguyên nhân là do trong trái gấc có chứa carotene - một chất có thể giải độc và được người nước ngoài ưa chuộng.
Từ đó, ông hiểu ra rằng trái gấc không chỉ có công dụng tạo nên món xôi ngon mà còn có thể chữa nhiều bệnh, được ưa thích nên nếu chịu khó, có thể mang lại thêm thu nhập cho gia đình. Sẵn ở quê nhà (xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) có mảnh đất rộng, sau khi nghỉ hưu ông Quảng quyết định gắn bó với nghề nông thông qua việc trồng gấc.
Cây gấc dễ trồng, có khả năng thích ứng tốt trên nhiều loại đất, song theo theo kinh nghiệm bản thân, ông Quảng cho biết gấc trồng tại miền Bắc sẽ cho chất lượng cao hơn các vùng khác tại Việt Nam cũng như trên thế giới. "Khí hậu bốn mùa tại miền Bắc là điều kiện tốt nhất cho trái gấc phát triển. Gấc cũng có thể trồng ở miền Trung, miền Nam nhưng quả sẽ nhạt hơn, hàm lượng carotene cũng thấp hơn", ông cho hay.
Chất carotene trong thịt gấc có tác dụng chống lão hóa, ung thư và làm sáng mắt.
Giống gấc truyền thống Việt Nam thường cho quả bé, cùi dày, thịt ít nên lượng tinh dầu chiết xuất ra sẽ thấp, làm giảm giá trị kinh tế. Sau nhiều lần tìm tòi, ông Quảng chủ động chọn giống gấc lai cao sản của Australia về trồng trong mảnh vườn một hecta. Theo ông, giống gấc này có ưu điểm cho quả to, thịt nhiều, hàm lượng carotene cao. Hiện bình quân trái gấc trong vườn nhà ông lên tới 9kg một quả.
Trồng được gấc, nhưng điều khiến ông Quảng lo lắng nhất là đầu ra cho sản phẩm, khi mà giá thu mua trong nước quá rẻ. Không biết ngoại ngữ, internet lại chưa phát triển nên ông phải bỏ hai năm đầu tiên "ăn nằm" ở những bến cảng Bắc - Nam để hỏi thăm địa chỉ các gia đình có con cái đang ở nước ngoài. Thông qua họ, ông móc nối với thương nhân Việt kiều tại Pháp, Anh, Canada, Australia..., nhờ họ tìm mối để xuất khẩu gấc.
"Khoa học kỹ thuật của nước ngoài rất phát triển nên nhu cầu carotene cao, song điều kiện khí hậu không cho phép họ chiết xuất từ gấc mà phải lấy từ cà chua. Khi tôi giới thiệu sản phẩm gấc, họ rất quý vì theo tính toán, một kg gấc có thể chiết xuất ra lượng carotene bằng 70 kg cà chua", ông Quảng bày tỏ. Nhận thấy nhu cầu của thị trường nước ngoài lớn, ngày càng có nhiều đầu mối đến gia đình ông để xin mua hàng, cung cấp cho các đầu mối ở nước ngoài.
Có đầu ra ổn định, ông Quảng bắt tay vào xây dựng vùng nguyên liệu. Ngoài khu vườn tự có trên Bắc Giang, gia đình ông Quảng đã giới thiệu giống gấc lai cao sản tới các hộ dân tại hơn 50 địa phương, với diện tích trên 1.700 hécta.
Cũng theo ông, chi phí đầu tư trồng vườn gấc không quá lớn. Nếu làm giàn thô sơ với cột tre và dây cuốn tận dụng từ dây cáp điện thoại, tiền công ban đầu chỉ là 13 triệu đồng trên mỗi hécta (đã tính cả tiền giống). Còn nếu làm kiên cố, vĩnh cửu như đổ cột bê tông, làm đường ống nước, quấn vòm thì chi phí mất khoảng 30-35 triệu đồng. Tuy nhiên, đây chỉ là chi phí đầu tư ban đầu, khi cây gấc đã sinh trưởng thì sẽ cho quả trong 30 năm và mỗi năm chỉ cần bón phân là đủ. Ngoài ra, các hộ nông dân cũng có thể chọn cách làm giàn kết hợp giữa phương pháp thô sơ và kiên cố để tiết kiệm chi phí mà lại giữ được giá trị bền vững.
Thông thường, một vụ gấc sẽ bắt đầu vào mùa xuân và đến mùa đông thì thu hoạch. Trong thời gian gấc chưa leo giàn, người dân cũng có thể trồng xen kẽ một số roại rau củ quả như su su, bầu, bí xanh, dưới giàn có thể trồng cỏ, đinh lăng, nuôi gà..., đem lại thêm thu nhập cho gia đình.
Ông Quảng ước tính, một hécta gấc hiện nay có thể đem lại sản lượng trên 20 tấn một năm. Tính theo giá gấc gia đình ông thu mua là 10.000 một kg, người nông dân có thể kiếm lợi khoảng 200 triệu mỗi hécta. Riêng gia đình ông, sau khi mua gấc từ mọi miền sẽ tiến hành sơ chế ra những gói tinh bột để xuất khẩu, tiền lãi ước tính khoảng 10% tổng giá trị đơn hàng.
Song, nỗi niềm lớn nhất của vị "doanh nhân" làm giàu từ gấc này vẫn là làm thế nào phổ biến được giống gấc lai cao sản trên toàn quốc, vừa để giúp người nông dân thoát nghèo và gia đình cũng không còn phải canh cánh nỗi lo không giao đủ gấc cho khách hàng, bởi khi kinh doanh theo đường chính ngạch, thiếu gấc gia đình ông sẽ không thể xuất hàng theo container, thậm chí có thể bị phạt vì giao chậm.
"Mong ước trong năm mới của tôi chỉ là không thiếu gấc", ông Quảng nói.
Theo các nhà khoa học, trong 100g thịt gấc (màng đỏ) chứa 15mg carotene và 16mg lycopen. Các chất này là nguyên liệu để sản xuất ra các sản phẩm chức năng chống suy dinh dưỡng, làm sáng mắt, chống lão hoá, phòng chữa sạm da, trứng cá, khô da, rụng tóc ...
Một số nghiên cứu cho thấy các hợp chất của carotene, lycopen, vitamin E (-cotopherol) có trong dầu gấc còn có tác dụng làm vô hiệu hóa 75% các chất gây ung thư, nhất là ung thư vú.
Read more…

CÁC MẶT HÀNG CHỦ YẾU NHÓM I NHẬP KHẨU NĂM 2010 VÀ GIAI ĐOẠN 2011-2015

6:17 AM |

Dưới đây là các mặt hàng nước ta nhập khẩu chủ yếu (xu hướng nhập khẩu năm 2011 - 2015)
1.Thép thành phẩm 4.700
2. Phôi thép    1.100
3. Phân bón    1.100 
4. Xăng dầu    6.100
5. Chất dẻo nguyên liệu   3.200
6.  Máy móc thiết bị phụ tùng  860
7.  Tân dược      1000 
8.  Hóa chất nguyên liệu 1650
9.  Giấy    830
10. Điện tử, máy tính và linh kiện  4600
11.  Vải  4500
12.  Nguyên liệu dệt may, da  3300
13.  Sản phẩm hóa chất  1600
14.  Gỗ nguyên liệu     920
15.  Thuốc trừ sâu và nguyên liệu  450
16.  Thức ăn gia súc và nguyên liệu 1700

SSưu tầm .
1 

Read more…

Xuất khẩu gạo: Một năm khó khăn

8:06 PM |

Dù tổng lượng gạo xuất bán trong năm 2013 là khoảng 8,2 triệu tấn nhưng có đến 1,5 triệu tấn là xuất tiểu ngạch; xuất chính ngạch chỉ đạt 6,681 triệu tấn, giảm 1,038 triệu tấn so với năm trước.

Những thông tin trên được Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nêu ra tại hội nghị tổng kết hoạt động năm 2013 và phương hướng năm 2014, tổ chức sáng 9-1 ở TP HCM.

Bị soán ngôi

Theo ông Huỳnh Minh Huệ, Tổng Thư ký VFA, năm 2013, xuất khẩu gạo chính ngạch giảm cả về số lượng (6,681 triệu tấn, giảm 13,45%, tương đương 1,038 triệu tấn) và trị giá (giảm 16,12%) so với năm trước. Trị giá giảm nhiều do giá xuất khẩu gạo bình quân giảm 13,79 USD/tấn so với năm 2012.

Từ vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, năm 2013, Việt Nam đã bị Thái Lan soán ngôi, tụt xuống thứ ba (Ấn Độ vẫn dẫn đầu). Về chủng loại xuất khẩu, gạo cao cấp chiếm hơn 34%, gạo trung bình 20%, gạo thấp cấp 17%, gạo thơm gần 15%, nếp gần 6,5%. Thị trường tiêu thụ chính vẫn là châu Á (hơn 60%), châu Phi (hơn 28%)...

VFA cho rằng nguyên nhân chính do nhu cầu từ các thị trường truyền thống giảm, như: 6 tháng cuối năm, Indonesia không nhập khẩu, Philippines và Malaysia nhập ít hơn nhiều so với thường kỳ mọi năm. Do bị cạnh tranh gay gắt nên hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp (DN) đạt thấp, nhiều DN bị lỗ do giá thị trường giảm mạnh sau khi mua tạm trữ.

Nhiều rủi ro, bất cập từ xuất tiểu ngạch

Theo VFA, xuất khẩu tiểu ngạch (chủ yếu sang Trung Quốc) cũng khiến xuất khẩu chính ngạch giảm mạnh. Năm 2013, xuất khẩu qua biên giới Trung Quốc tăng vọt, ước tính lên đến 1,4-1,5 triệu tấn. Dù điều này giúp bù đắp cho lượng xuất khẩu chính ngạch giảm và góp phần tiêu thụ bớt lúa gạo trong nước nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cũng “nhờ” đóng góp của xuất tiểu ngạch mà tổng lượng gạo trong nước được xuất bán trong năm 2013 đạt khoảng 8,2 triệu tấn.

Ông Nguyễn Văn Tiến, Tổng Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex), đánh giá: 2013 không chỉ là một năm khó khăn mà là một năm khó chịu đối với nhà xuất khẩu. Giá xuất khẩu và giá nội địa không gặp nhau. Giá nội địa bị chi phối bởi tình trạng xuất tiểu ngạch.

Theo ông Phạm Văn Bảy, Phó Chủ tịch VFA, đáng lo nhất của xuất khẩu tiểu ngạch là tình trạng trốn thuế, gian lận thuế. Không chỉ phía Việt Nam mà Trung Quốc cũng bị thất thu thuế, đồng thời các DN xuất khẩu chính thức gặp khó khăn do giá cao hơn, không cạnh tranh được. DN cũng không thể tham gia bán gạo cho các đầu mối xuất khẩu tiểu ngạch vì họ yêu cầu không xuất hóa đơn bán hàng, những DN làm ăn đàng hoàng trong hiệp hội không dám làm.

Ông Lâm Anh Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Lương thực Thịnh Phát (tỉnh Bến Tre), cho rằng Việt Nam nằm sát biên giới Trung Quốc là một lợi thế để xuất tiểu ngạch trong bối cảnh thế giới thừa lượng gạo như hiện nay. Nhu cầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc từ Việt Nam là trên 3,5 triệu tấn/năm. Hiện đang có sự bất bình đẳng khi gạo xuất chính ngạch mất phí 3.000 đồng/kg, còn tiểu ngạch chỉ mất 1.200 đồng/kg.

“Các nhà chức trách cần có biện pháp quản lý tình trạng xuất tiểu ngạch để mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia; chứ như hiện nay, chỉ những DN chấp nhận bán hàng không hóa đơn mới dám làm” - ông Lâm Anh Tuấn kiến nghị.

Giảm mọi mặt

Từ vị trí thứ 3 thế giới về lượng gạo nhập từ Việt Nam, năm 2013, Indonesia tụt xuống thứ 7 với 146.753 tấn, trị giá 85,71 triệu USD (11 tháng đầu năm), giảm 81,42% về khối lượng và giảm 78,12% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Cũng như vậy, Philippines từ vị trí thứ 2 tụt xuống vị trí thứ 5 trong năm 2013 với chỉ 362.043 tấn mua của Việt Nam, trị giá 160,66 triệu USD (11 tháng đầu năm), giảm 67% về khối lượng và giảm 65,71% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.

Malaysia tiếp tục là khách hàng lớn thứ 3 của Việt Nam nhưng lượng gạo nước này mua trong năm 2013 chỉ đạt 453.240 tấn, trị giá 225,5 triệu USD (11 tháng đầu năm), giảm 39,05% về khối lượng và giảm 42,49% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.
Read more…

Miễn thuế xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu của NHNN

8:02 PM |

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định về việc miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với vàng nguyên liệu xuất khẩu, nhập khẩu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam.


Theo đó, từ ngày 15/3/2014, vàng nguyên liệu xuất khẩu, nhập khẩu của NHNN Việt Nam được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Quyết định này nhằm để tạo thuận lợi cho NHNN Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, góp phần bình ổn thị trường vàng trong nước.
Read more…

Ôtô nhập khẩu 2013: “Ngũ long” tranh bá

7:56 PM |

Câu chuyện về nguồn gốc, xuất xứ của ôtô nhập khẩu vào Việt Nam năm 2013 chứa đựng nhiều yếu tố đáng lưu tâm...


CôngThương - Thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho biết, năm 2013 đã có tổng cộng 34.978 ôtô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam, đạt giá trị kim ngạch xấp xỉ 708 triệu USD.
Tạm gác vấn đề tăng/giảm kim ngạch so với các năm trước, có lẽ câu chuyện về nguồn gốc, xuất xứ của các loại xe nhập khẩu vào Việt Nam trong năm vừa qua chứa đựng nhiều yếu tố đáng lưu tâm hơn.
Từ năm 2008, ôtô Hàn Quốc đã bắt đầu được nhắc đến như một “thế lực” thực sự đáng gờm trên thị trường ôtô Việt Nam, kể cả nhập khẩu lẫn lắp ráp trong nước. Năm 2008 cũng là thời điểm cực thịnh của xe Hàn Quốc với đà ăn nên làm ra của nhà nhập khẩu và phân phối chính hãng Hyundai Việt Nam (HMV) cùng sự bùng nổ của khối xe không chính hãng do các doanh nghiệp thương mại đưa về.
Nối gót Hyundai, Kia cũng bắt đầu cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của mình, đặc biệt là từ khi có mặt trên thị trường thông qua nhà sản xuất và phân phối Trường Hải.
Với ưu thế về giá bán, thiết kế dễ gần và nhất là các trang bị công nghệ khá đầy đủ khi so với xe Nhật Bản, Mỹ và châu Âu, ôtô Hàn Quốc đã không ngừng phát triển trong suốt 5 năm vừa qua. Còn vấn đề về chất lượng thì lại hoàn toàn khác và cần bàn đến vào một dịp khác.
Bởi vậy, không lạ khi năm 2013 vừa qua, ôtô nhập khẩu từ Hàn Quốc đã chiếm vị trí số 1 với 14.540 chiếc, đạt giá trị kim ngạch hơn 171 triệu USD.
Cũng có nhiều nhận định, trong một vài năm tới ôtô xuất xứ từ Hàn Quốc sẽ không còn giữ được ưu thế áp đảo nữa bởi bản thân Hyundai và Kia cũng đang có nhà máy đặt tại Việt Nam. Nếu như nhà máy của Hyundai Thành Công mới xây dựng xong và chưa chứng tỏ gì nhiều thì nhà máy Kia do Trường Hải thực hiện lại đang đạt sản lượng bán hàng rất tốt. Cụ thể, trong năm 2013, Thaco Kia đã bán ra thị trường 8.891 xe, tăng 2% so với năm 2012 và đừng thứ 3 chiếm 9,2% thị phần do các thành viên Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) chi phối.
Đứng thứ hai là Trung Quốc với kim ngạch 4.372 chiếc về lượng và 169 triệu USD về giá trị. Sở dĩ kim ngạch nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ quốc gia láng giềng này luôn đạt giá trị rất cao trong khi số lượng không nhiều là bởi đa số sản phẩm là các loại xe tải và xe chuyên dụng. Vì vậy, sự ổn định là dễ nhận thấy.
Khi nhìn vào nhóm 5 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu ôtô lớn nhất vào Việt Nam có thể thấy khá rõ một xu hướng nữa. Đó là Đức, đại diện ưu tú nhất của thị trường xe hơi hạng sang.
Năm 2013, chỉ có 1.676 xe nhập khẩu từ cường quốc công nghiệp ôtô này song giá trị kim ngạch lại đạt hơn 65 triệu USD. Nhớ rằng, tuyệt đại đa số các loại xe hơi hạng sang tại Việt Nam đều có xuất xứ từ Đức.
Cũng sẽ nhiều ý kiến cho rằng, thương hiệu xe sang đến từ Nhật Bản là Lexus đang rất được ưa chuộng. Nhưng vấn đề ở chỗ, kể từ giữa năm 2011, khi Thông tư 20 do Bộ Công Thương ban hành chính thức có hiệu lực thì đến nay, Lexus gần như bị “cấm cửa” và chỉ chính thức vào Việt Nam trong vài ngày cuối cùng của năm 2013 thông qua liên doanh Toyota. Vì vậy, con đường thênh thang chính là dành cho xe xuất xứ từ Đức với các thương hiệu Mercedes-Benz, BMW, Audi hay Porsche, ít nhất là từ giữa năm 2011 trở về trước và trước khi bước sang năm 2014.
Khi thị trường ôtô hạng sang ngày càng phát triển thì rõ ràng, xe xuất xứ từ Đức đương nhiên chiếm lợi thế vượt trội.
Một xu hướng nữa cũng cần đặc biệt lưu tâm là sự lớn mạnh của xe nhập khẩu từ ASEAN.
Năm 2013, kim ngạch nhập khẩu ôtô từ Thái Lan và Indonesia đạt 9.598 chiếc về lượng và hơn 161 triệu USD về giá trị. Khi tiến trình cắt giảm thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ khối này ngày càng nhanh và sẽ kết thúc ở mức 0% vào năm 2018 thì rõ ràng, ôtô nhập khẩu từ ASEAN không thể không phát triển mạnh mẽ.
Cho dù lúc này, ngay như Thái Lan cũng chưa được xếp vào nhóm cường quốc công nghiệp ôtô. Song với lợi thế về thuế quan đến từ Hiệp định Thương mại hàng hóa ATIGA, các tập đoàn ôtô hàng đầu thế giới như Toyota hay Ford đều đang tăng cường tiềm lực cho nhà máy của mình tại Thái Lan và Indonesia, biến hai quốc gia này thành trung tâm sản xuất, lắp ráp để trước mắt xuất khẩu sang các thị trường thuộc khu vực châu Á, trừ Trung Quốc.
Ôtô nhập khẩu từ ASEAN cũng theo đó gia tăng nỗi lo cho ngành công nghiệp ôtô trong nước. Chỉ còn quãng thời gian 4 năm cho những nỗ lực của các nhà quản lý ngành và các liên doanh, doanh nghiệp lắp ráp ôtô trong nước tỏ rõ nỗ lực của mình (nếu muốn) hoặc chuẩn bị cho một cuộc thiên di các nhà máy khỏi Việt Nam.
Các nước/vùng lãnh thổ xuất khẩu ôtô vào Việt Nam 2013
Stt Nước/vùng lãnh thổ
Lượng (chiếc) Giá trị (USD)
1 Hàn Quốc 14.540 171.232.876
2 Trung Quốc 4.372 169.009.018
3 Thái Lan 7.764 141.917.974
4 Đức 1.676 65.194.970
5 Nhật Bản 2.305 63.570.857
6 Ấn Độ 1.161 31.277.028
7 Mỹ 706 27.023.216
8 Indonesia 1.834 19.132.908
9 Anh 299 7.297.575
10 Nga 119 4.703.115
11 Pháp 81 4.240.309
12 Khác 121 2.766.294
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Theo VnEconomy
Read more…

Xuất siêu thấp hơn nhiều so với dự kiến

7:55 PM |

Theo số liệu thực tế của Tổng cục Hải quan, cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2013 chỉ thặng dư 10 triệu USD, thấp hơn nhiều so với con số hơn 860 triệu USD theo ước tính trước đó.



Số liệu vừa được Tổng cục Hải quan công bố cho thấy 2013 là năm thứ hai liên tiếp cả nước xuất siêu, song chỉ đạt 10 triệu USD, thấp hơn nhiều so với con số được Tổng cục Thống kê ước tính trước đó. 
Khu vực doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ xuất siêu 6,5 tỷ USD, so với 14 tỷ USD trước đó, trong khi khu vực trong nước nhập siêu 6,49 tỷ USD, chỉ bằng một nửa số ước tính của cơ quan Thống kê.
xuat-nhap-khau-9506-1390209486.jpg
Đơn vị: tỷ USD. Nguồn: Tổng cục Hải quan
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 132,135 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Động lực chính thúc đẩy xuất khẩu là doanh nghiệp FDI khi chiếm tới 62% tổng kim ngạch cả nước (gần 61 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, kim ngạch xuất khẩu của khối này tăng 26%, chủ yếu ở nhóm hàng điện thoại và linh kiện (hơn 21 tỷ USD) và dệt may (10,7 tỷ USD). Ngược lại, khối doanh nghiệp trong nước mạnh về xuất khẩu dầu thô, thủy sản, đồ gỗ...
Kim ngạch nhập khẩu năm nay tăng cao hơn xuất khẩu (16%) nhưng quy mô vẫn thấp hơn, đạt 132,125 tỷ USD. Do ngành công nghiệp phụ trợ yếu, ngành công nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập từ nước ngoài, bằng chứng là nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng lên tới 18,7 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái, nhập khẩu vải 8,4 tỷ USD, nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện gần 17,7 tỷ USD.
Tuy nhiên, một số mặt hàng lại có kim ngạch nhập khẩu giảm như xe máy với 18.866 chiếc, giá trị 42 triệu USD, giảm 50% về lượng và 40% về giá trị so với năm ngoái. Hiện nay, đa số xe máy Việt Nam đã được sản xuất trong nước, cùng với đó là những chính sách hạn chế gia tăng loại phương tiện nay (thuế, phí trước bạ) khiến nhu cầu nhập khẩu xe nguyên chiếc giảm xuống. Nhập khẩu phê liệu sắt thắp cũng giảm 12% về giá trị, đặc biệt nhập khẩu xăng dầu giảm 22%.
Theo VnExpress
Read more…